English version Đường dây nóng: (092) 345-7788 | (091) 356-4657 | (04) 3772-2729 | (08) 3930-8101 | (091) 949-9936 | mail: hotnews@vietnamnet.vn
,
221
485
Hồ sơ
hoso
/giaoduc/hoso/
544424
Báo cáo thẩm tra về tình hình giáo dục
1
Article
447
Giáo dục
giaoduc
/giaoduc/
,

Báo cáo thẩm tra về tình hình giáo dục

Cập nhật lúc 09:43, Thứ Hai, 15/11/2004 (GMT+7)
,

Báo cáo thẩm tra về báo cáo tình hình giáo dục của Chính phủ

Kính gửi: Các vị Đại biểu Quốc Hội

Thực hiện nhiệm vụ thẩm tra về Báo cáo của Chính phủ về tình hình giáo dục trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 6, Uỷ ban Văn hoá, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội đã làm việc với Bộ GD - ĐT, Bộ Lao động , Thương binh và Xã hội; đã tổ chức đi khảo sát về tình hình giáo dục tại một số địa phương và cơ sở giáo dục; tổ chức hội nghị các chuyên gia giáo dục, các nhà khoa học, các nhà quản về lý giáo dục, giáo viên, đại diện các cơ quan báo chí để thảo luận, góp ý về giáo dục. Uỷ ban đã họp toàn thể vào ngày 14 -15/9/2004 để thảo luận và thông qua Báo cáo thẩm tra.

Sau đây là ý kiến thẩm tra của Uỷ ban Văn hoá, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội.

I - VỀ TÌNH HÌNH GIÁO DỤC TRONG NHỮNG NĂM ĐỔI MỚI

1- Về phát triển quy mô

Trong báo cáo của Chính phủ dã tập hợp được một hệ thống các số liệu khá đầy đủ để đánh giá phát triẻn quy mô giáo dục. Được sự quan tâm, chăm lo của Đảng, Nhà nước và sự chỉ đạo, điều hành tích cực của Chính phủ luôn coi giáo dục là quốc sách hành đàu nên đến nay, nước ta đã hình thành được một mạnh lưới các trường học của các cấp học, bậc học, ngành học rộng khắp trong cả nước; đã xây dựng được hệ thống các trường dân tộc nội trú với điều kiẹn tương đối tốt để đào tạo con em các dân tộc ít người. Hệ thống các trường ngoài công lập được hình thành đã góp phần đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng cao của nhân dân. Cả nước dã hoàn thành phổ cập giáo dục Tiểu học vào năm 2000 và đến nay đã có 20 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được công nhận phổ cập giáo dục THCS. Giáo dục thường xuyên được khuyến khích và mở rộng, do đó, về cơ bản đã đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân và đang hình thành một xã hội học tập. Năm học 2004 - 2005 cả nước có 22,7 triệu học sinh (hơn 1/4 dân số đi học). Với một nươc có bình quân thu nhập trên 400USD/ đầu người/ năm mà xây dựng được một nền giáo dục như hienẹ nay là một sự nỗ lực to lớn rất đáng tự hào. Chúng ta ghi nhận và trân trọng sự nỗ lực, cố gắngcủa các cấp uỷ Đảng, chính quyền, của toàn dân, của ngành giáo dục trong đó có công lao của gần một triệu thầy giáo, cô giáo, cán bộ quản lý giáo dục và công sức học tập của học sinh, sinh.viên.

2- Về chất lượng giáo dục

Chất lượng giáo dục hiện nay đang là vấn đề được xã hội đặc biệt quan tâm vì, chất lượng giáo dục có ý nghĩa quyết định đến chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.

Ở nhiều nước, để đánh giá chất lượng giáo dục, thường thành lập cơ quan kiểm định chất lượng giáo dục, các cơ quan này có thể là cơ quan độc lập với Bộ GD - ĐT, có thể trực thuộc Bộ GD song đều hoạt động một cách độc lập và khách quan về mặt chuyên môn, nghiệp vụ. Cơ quan này có tráh nhiệm nghiên cứu nội dung, chương trình giáo dục (cả trong nước và ngoài nước), xây dựng ngân hàng đề thi để cung cấp cho các trường khi có yêu cầu tổ chức thi và tự mình có thể tổ chức kiểm tra để đánh giá khách quan kiến thức của người họcở một cấp học, bậc học trong cả nước và công bố công khai kết quả để nhà trường  khắc phục những yếu kém của mình. Trong một số trường hợp kết quả kiểm tra của cơ quan kiểm định chất lượng giáo dục còn đựoc sử dụng trong việc tuyển sinh. Theo Uỷ ban chúng tôi, cơ quan kiểm định chất lượng giáo dục khi cần thiết cũng có thể xây dựng những tieu chí để tổ chức đánh giá chất lượng về một lĩnh vực cụ thể của giáo dục, như vậy, đánh giá về chất lượng gaío dục sẽ có cơ sở định lượng hơn.

Ở nước ta từ trước đến nay không có cơ quan chuyên trách thực hiện việc dánh giá chất lượng thường xuyên hàng năm.  Cục KHảo thí và Kiểm định Chất lượng của Bộ GD - ĐT mới được thành lập còn đang trong giai đoạn củng cố tổ chức, bộ máy nên chưa thựuc hiện được nhiệm vụ góp phần đánh giá chất lưọnggiáo dục trong Báo cáo của Chính phủ trước Quốc hội lần này. Vì vậy đánh gái chất lượng giáo dục trong Báo cáo của Chính phủ chủ yếu căn cứ vào kết quả các kỳ thi và đánh giá của các nhà  trường, cơ sở giáo dục về kết quả học tập, rèn luyện của học sinh, sinh viên và nhận xét của các cơ quan quản lý giáo dục. Báo cáo chưa có được những kết quả điều tra xã hội  để đánh giá cụ thể từng mặt tieue chí, đức, thể, mỹ, kỹ năng nghề nghiệp của người học đối chiếu với mục tiêu giáo dục để từ đó rút ra những mặt được và những tồn tại của chất lượng giáo dục.

Thông qua côngtác giám sát và nghiên cứu, khảo sát thực tế, Uỷ ban Văn hoá, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc họi cho rằng, chất lượng giáo dục trong những năm đổi mới cũng đã từng bước được cải thiện, lực lượng lao động được đào tạo dã và đang gọp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã  hội của đất nước. Trong hầu hết các cuộc thi trí tuệ thế giới, học sinh Việt Nam luôn đạt các giải cao mang vinh quang về cho Tổ quốc mà ngay cả ở mốtố nước trong khu vực cũng muốn học tập kinh nghiệm. Tuy nhiên, chất lượng giáo dục nhìn chung còn yếu kém, bất cập; lối học khoa cử vẫ còn nặng nề, giáo dục chỉ chú ý đến truyền đạt kiến thức nhằm ứng phó vớ các kỳ thi, chưa chú trọng đến việc xây dựng tư duy sáng tạo, tự học, tự nghiên cứu, kiến thức chuyên ngành ít được cập nhật, trình độ ngoại ngữ, tin học yếu, kỹ năng nghề nghiệp còn hạn chế, chưa chú trọng đúng mức việc giáo dục đạo đức, lối sống, động cơ học tập cho học sinh, sinh viên.

Sự tụt hậu của giáo dục của nước ta so với thế giới đang là một thách thức lớn, nhất là trong đào tạo nguồn nhân lực, dặc biẹt là ở bậc đại học. Năng lực của hệ thống giáo dục chưa thích ứng được yêu cầu đổi mới kinh tế - xã hội, hội nhập quốc tế và phát triển con người ở thế kỷ XXI. 

II NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG YẾU KÉM VỀ CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC

1. Việc cụ thể hóa đường lối, quan điểm của Đảng, Nhà nước về giáo dục thành những chính sách cụ thể và nghiên cứu xây dựng cơ sở lý luận cho đổi mới giáo dục còn hạn chế. Trong thực tế, có tình trạng còn lúng túng và chậm trễ trong thời kỳ đổi mới, xây dựng nền kinh tế mở, áp dụng cơ chế thị trường thị trường theo định hướng XHCN trong quản lý kinh tế.

2. Nội dung chương trình và phương pháp giáo dục chậm đổi mới

Có thể nói rằng nội dung, chương trình, sách giáo khoa, giáo trình, phương pháp giáodục có một ý nghĩa vô cùng quan trọng để tạo ra chất lượng giáo dục – đào tạo.

Ở các trường ĐH, CĐ, THCN, dạy nghề, tuy cũng đã có nhiều việc làm để cải tiến nộidung chương trình và phương pháp nhưng nhìn chung nội dung chương trình thiếu cập nhật kiến thức mới và chưa hội nhập được với trình độ giáo dục thế giới, giáo trình thiếu và lạc hậu, tỷ lệ thời gian dành cho các môn học chưa hợp lý. Mô hình giáo dục ĐH chậm đổi mới, chưa có ngành đào tạo mũi nhọn nào, chưa có trường ĐH nào của nước ta có thể liên thông được với các trường ĐH khu vực và thế giới.

Thực hiện Nghị quyết 40 của Quốc hội về đổi mới giáo dục phổ thông, Bộ GD-ĐT đã tổ chức thực hiện nghiêm túc và bước đầu đã có những kết quả đáng ghi nhận. Tuy nhiên, việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông không đồng bộ với đổi mới chương trình đào tạo ở các trường sư phạm mà đúng ra việc đổi mới chương trình ở các trường sư phạm phải được thực hiện trước khi đổi mới ở giáo dục phổ thông. Ngay từ đầu đã khôngthiết kế nội dung chương trình cho từng cấp học, bậc học để đảm bảo tính hệ thống, tính chỉnh thể của chương trình mà thường là được cấp học, bậc học nào thì phê duyệt và tổ chức viết sách giáo khoa cho cấp, bậc học đó.

Theo nhận xét của một số chuyên gia giáo dục thì SGK mới, về trình độ tương đương với SGK cải cách, đã giảm được những kiến thức trừu tượng,  khó hiểu và tạo điều kiện áp dụng phương pháp dạy học tích cực, đòi hỏi giáo viên phải sử dụng đồ dùng dạy học, phải làm thí nghiệm. Tuy nhiên, có bộ môn giảm kiến thức hàn lâm qúa mức dẫn đến coi nhẹ định lượng, hình thành khai niệm; sử dụng phương pháp thảo luận, quy nạp ngay cả ở những chỗ cần thuyết giảng. Hơn nữa, việc đổi mới phương pháp chủ yếu là nhiệm vụ của giáo viên, phải thông qua công tác bồi dưỡng giáo viên và được thể hiện trong sách hướng dẫn giáo viên là chính nhưng có bộ môn lại đưa qúa nhiều vào trong sách giáo khoa.

Trang thiết bị, đồ dùng dạy học phục vụ cho thay SGK mới còn thiếu, không đồng bộ, chưa bảo đảm chất lương; hơn nữa việc cung cấp trang thiết bị còn chậm, thậm chí hết học kỳ 1 mà nhiều trường vẫn chưa có đủ trang thiết bị, đồ dùng dạy học.

3.Các điều kiện đảm bảo cho giáo dục nhất là cho đào tạo nguồn nhân lực còn thấp so với yêu cầu đảm bảo chất lượng, đặc biệt là các điều kiện để chuẩn hóa và hiện đại hóa giáo dục, tiếp cận với giáo dục khu vực và quốc tế còn rất bất cập.

a. Về đội ngũ giáo viên

Có thể nói rằng, trong mối tương quan giữa các điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục, đào tạo, yếu tố quan trọng trực tiếp hàng đầu là đội ngũ giáo viên, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu và bảo đảm chất lượng (năng lực chuyên môn, phương pháp sư phạm và đạo đức, lương tâm nghề nghiệp). Đội ngũ giáo viên đã lên đến gần 1 triệu người, trong đó giáo viên phổ thông đạt chuẩn khá cao, đại đa số giáo viên yêu nghề, tận tâm với sự nghiệp giáo dục. Nhà nước đã có chính sách ưu đãi như phụ cấp đứng lớp cho giáo viên, miễn học phí cho SV sư phạm…Tuy nhiên, cơ cấu đội ngũ giáo viên chưa đảm bảo, ở hầu hết các địa phương đêu thiếu giáo viên các môn mỹ thuật, âm nhạc, thể dục, thể thao… Công tác bồi dưỡng thường xuyên để cập nhật kiến thức hàng năm chưa quy định thành chế độ bắt buộc. Một bộ phận giáo viên chưa dành thời gian tự học, tự bồi dưỡng nên trình độ chuyên môn và phương pháp sư phạm còn bất cập. Do trong một thời gian dài, chỉ dạy theo phương pháp thuyết giảng nên hiện nay không ít giáo viên ngại sử dụng đồ dùng học tập, ngaị làm thí nghiệm, lúng túng trong việc sử dụng SGK mới.

Đối với giáo dục nghề nghiệp và ĐH, ngoài việc thiếu cán bộ giảng dạy khá trầm trọng, nhìn chung phương pháp dạy học vẫn nặng về thuyết giảng, ít thực nghiệm và hầu như không đi thực tế, đặc biệt công tác nghiên cứu khoa học rất hạn chế.

Đội ngũ cán bộ giảng dạy ĐH được đào tạo một cách hệ thống ở trong nước và nước ngoài tư những thập kỷ 50-60, thế kỷ XX đang là những tiến sĩ, GS, PGS có kinh nghiệm giảng dạy nghiên cứu khoa học và, hiện nay đang là lực lượng trụ cột của các nhà trường, đều đã ở tuổi 65-70. Trong khi đó đội ngũ kế cận thì chưa được chuẩn bị ngang tầm để thay thế. Gần 30 năm qua, việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ giảng dạy chủ yếu được thực hiện ở trọng nước, đại đa số cán bộ giảng dạy không có điều kiện giao lưu, trao đổi học thuật với các trường ĐH của thế giới. Trong những năm gần đây, Nhà nước chủ trương đầu tư ngân sách để đưa cán bộ giảng dạy và cán bộ nghiên cứu đi đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài nhưng tiếc rằng trong thời gian tổ chức thực hiện, Bộ GD-ĐT đã phân bổ tới 23% chỉ tiêu nghiên cứu sinh, thực tập sinh cho cán bộ, công chức ở các cơ quan hành chính nhà nước, các tổ chức đàon thể, trong khi đó yêu cầu bồi dưỡng đối với cán bộ công chức của các cơ quan này là kiến thức theo chiều rộng về quản lý xã hội hiện đại, năng lực hành chính, các kỹ năng quan hệ xã hội… chứ không phải là kiến thức của một chuyên ngành kinh tế, kỹ thuật hẹp. Ủy ban của chúng tôi đề nghị, trong những năm tới cần tập trung các chỉ tiêu này cho việc đào tạo cán bộ giảng dạy của các trường ĐH, vì đây đang là yêu cầu cấp bách của các trường ĐH.

Ở các trường ĐH của ta hiện nay, tỷ lệ trung bình là 25,8 SV/giảng viên, số giờ dạy của giảng viên từ 800 – 1.000h/năm, thậm chí có giảng viên dạy đến 1.500h/năm (ở ĐH các nước trung bình là 15-2-SV/giảng viên, mỗi giảng viên dạy từ 300h đến 400h/năm và tỷ lệ thời gian dành cho công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học được quy định là 50/50). Như vậy, cơ cấu lao động của giảng viên ở ĐH của nước ta rất bất hợp lý, số thời gian dành cho NCKH của đại đa số giảng viên ĐH là rất thấp. Giảng dạy và NCKH là hai nhiệm vụ cơ bản của giảng viên ĐH có liên quan chặt chẽ với nhau, giảng viên chỉ có thể nâng cao trình độ của mình thông qua công tác NCKH và từ đó mới có đủ năng lực trình độ để đưa ra những đề tài nghiên cứu có giá trị lý luận, thực tiễn để đào tạo sinh viên, thạc sĩ, tiến sĩ và đóng góp cho sự nghiệp phát triển khoa học, công nghệ nước nhà.

Nguyên nhân của tình hình trên, trước hết là do việc mở rộng quy mô, nhất là đào tạo tại chức không gắn với phát triển giáo viên. Trong thời gian qua, các trường ĐH, các Bộ, ngành, đoàn thể và hầu hết các tỉnh đều mở các lớp tại chức cùng với việc các trường ĐHDL được hình thành đã thu hút khá nhiều giảng viên ở các trường ĐH công lập nên chất lượng đào tạo ở chính quy cũng như tại chức không có điều kiện nâng lên. Nguyên nhân thứ hai là các điều kiện cho NCKH như đầu tư ngân sách rất thấp, không đủ để triển khai những đề tài có giá trị; trang thiết bị phục vụ cho NCKH rất thiếu và lạc hậu.

Trong những năm đổi mới, khi đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, kinh tế nước nhà đã có những bước phát triển nhanh chóng, đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện. Tuy nhiên, sự phân hoá giàu nghèo, sự tác động của mặt trái cơ chế thị trường, sự chưa hoàn thiện của hệ thống pháp luật, công tác quản lý Nhà nước còn nhiều bất cập, các hiện tượng tiêu cực, tham nhũng xảy ra không còn là cá biệt đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến toàn xã hội, trong đó có đội ngũ nhà giáo. Một số không ít giáo viên không giữ được vị trí, phẩm chất người thầy của mình, làm phai nhạt phần nào hình ảnh cao đẹp của người thầy trong xã hội. Tư tưởng chạy theo lợi ích vật chất, thiếu tâm huyết, không thực hiện việc tự nghiên cứu, tự học, tự bồi dưỡng nên trình độ chuyên môn của một bộ phận giáo viên không những không được nâng lên mà ngày càng mai một đi.

b. Đầu tư nguồn lực và cơ sở vật chất của giáo dục:

Có thể nói rằng, chất lượng giáo dục luôn tỷ lệ thuận với việc đầu tư (đầu tư theo nghĩa rộng bao gồm cả nhân lực, vật lực)

Trong nhiều năm qua, Chính phủ đã tập trung nhiều nguồn lực để đầu tư cho giáo dục. Mặc dù nền kinh tế nước ta còn kém phát triển, ngân sách Nhà nước còn rất eo hẹp, song ngân sách chi cho giáo dục, đào tạo hàng năm đều tăng. Nếu như tỷ lệ phần trăm ngân sách Nhà nước chi cho giáo dục năm 1998 chiếm 13,7% tổng chi ngân sách nhà nước thì đến năm 2004, tỷ lệ này đã lên tới 17,1%. Như vậy, tốc độ tăng bình quân về tỷ lệ ngân sách hàng năm khoảng 0,56%/năm.

Chi tiêu trực tiếp cho việc dạy và học được xem như một trong những yếu tố quan trọng liên quan trực tiếp đến chất lượng giáo dục. Ngân sách chi cho giáo dục phổ thông của chúng ta đặt chỉ tiêu cơ cấu phấn đấu 70% chi lương, 30% chi các hoạt động giáo dục. Qua công tác giám sát cho thấy, hiện nay tỷ lệ này ở nhiều địa phương thường chi lương chiếm tưg 85 - 95%; chỉ còn khoảng 5 - 10% chi công tác quản lý hành chính và các hoạt động giáo dục. Điều đó cho thấy, như vậy, tỷ lệ chi cho công tác dạy và học rất nhỏ bé.

Trong khi đó, ở một số nước phát triển như Anh, Pháp thì cơ cấu chi cho giáo dục với tỷ lệ chi cho lương và chi cho các hoạt động giáo dục là: Ở Tiểu học 90/10; THCS 60/40; THPT 50/50 (50% chi lương và 50% chi cho các hoạt động giáo dục).

Tỷ lệ chi ngân sách hàng năm tuy tăng song nếu tính các yếu tố như tỷ lệ trượt giá của đồng tiền và tốc độ tăng học sinh quá nhanh kéo theo sự tăng lên số giáo viên, cán bộ quản lý thì tốc độ tăng ngân sách đã không theo kịp tốc độ phát triển giáo dục.

Cơ sở trường học của nước ta ở tất cả các cấp học, bậc học còn đơn giản, còn nhiều phòng học chưa đủ tiêu chuẩn. Nếu so tỷ lệ số HS/lớp học theo yêu cầu thì số phòng học chúng ta còn thiếu rất nhiều và còn phải phấn đấu lâu dài. Hiện nay, tỷ lệ này ở các nước tiên tiến là 15 - 20 HS/lớp, còn ở nước ta trung bình là trên 30 HS/lớp. Như vậy, khó có điều kiện cho việc tổ chức dạy và học để nâng cao chất lượng. Ở rất nhiều trường tiểu học, THCS, THPT không có phòng thí nghiệm, thư viện, phòng sinh hoạt ngoại khó, phòng học bộ môn, thậm chí mộ số trường khi thực hiện thay SGK mới được nhận về khá nhiều thiết bị, đồ dùng dạy học song không có nơi để bảo quản nên phải giao cho giáo viên quản lý.

Trong những năm gần đây, một số trường ĐH, trường nghề được đầu tư nâng cấp, một số trường ĐH đã được bổ sung trang thiết bị hiện đại, có thư viện đáp ứng được yêu cầu học tập, NCKH như trường ĐH Bách khoa Hà Nội. Một số trường đã xây dựng được một số phòng thí nghiệm, cơ sở thực hành hiện đại như ĐH Quốc gia Hà Nội, ĐH Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, trường ĐH Bưu chính Viễn thông...

Tuy nhiên, nhìn chung cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ cho giảng dạy, học tập và NCKH của ĐH, CĐ, dạy nghề của nước ta còn rất thiếu và lạc hậu. Về diện tích, trường ĐH vào loại lớn của Việt Nam là khoảng 15 - 20ha, trường trung bình là 5 - 7ha, có trường chỉ có diện tích chưa được 2ha, trong khi đó đa số các trường ĐH ở Anh, Pháp, Úc, Thái Lan, Ma - lai - xi - a... đều có diện tích từ 50 - 70ha; trường ĐH Thượng Hải (Trung Quốc) có diện tích là 145ha; đất nước Singapore có diện tích chỉ tương đương tỉnh Thái Bình của Việt Nam, song trường ĐH kỹ thuật Nanyang có diện tích khuôn viên rộng tới 200ha với đầy đủ các điều kiện khá tốt, bảo đảm cho việc giảng dạy, nghiên cứu cho cán bộ giảng dạy và học tập, ăn ở, sinh hoạt ngoại khóa, vui chơi giải trí cho sinh viên.

Nguyên nhân ở đây có lẽ không phải là do nước ta "đất chật người đông" mà chính là ở nhận thức và chính sách đầu tư, chưa dự báo được yêu cầu nguồn nhân lực ở thế kỷ XXI đòi hỏi rất toàn diện, từ nội dung kiến thức đến phương pháp tư duy sáng tạo, khả năng làm việc trong một tập thể, kỹ năng giao tiếp xã hội mà tất cả những yêu cầu này phải được bồi dưỡng ngay trong nhà trường bằng trình độ năng lực của nhà giáo và việc hiện đại hoá cơ sở vật chất, trang thiết bị của nhà trường.

4. Công tác quản lý giáo dục

Không lĩnh vực nào có tác động một cách nhanh chóng, trực tiếp đến xã hội, tới từng gia đình và công dân như giáo dục. Và không có sự quan tâm nào của toàn dân mạnh mẽ như đối với giáo dục. Đây là một yếu tố thuận lợi để giáo dục vươn lên, song cũng đòi hỏi sự quản lý năng động, sáng tạo và hiệu quả của toàn ngành. Công tác quản lý Nhà nước về giáo dục trong thời gian qua đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế và bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý giáo dục trong tình hình mới. Những thay đổi trong giáo dục nhiều năm qua thường cạy theo những vấn đề cụ thể, mang tính giả quyết tình thế, thiếu sự đồng bộ. Cơ quan quản lý giáo dục cấp trung ương chưa tập trung vào việc nghiên cứu, dự báo, tham mưu cho Nhà nước xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy trong lĩnh vực giáo dục, mà vẫn còn theo cơ chế cũ kiểu tập trung quan liêu, cơ chế xin cho, nhiều khi sa quá nhiều vào các công việc sự vụ hành chính, làm thay chức năng của các cơ sở giáo dục.

Chưa tập trung chỉ đạo và thực hiện dứt điểm một số chủ trương như phân luồng học sinh sau THCS, liên thông trong hệ thống giáo dục, đổi mới cơ chế quản lý nhà nước, nhất là ở các trường đại học, xây dựng hệ thống các tiêu chuẩn để thực hiện chuẩn hoá... Những sự việc phát sinh trong thực tiễn như thi cử nặng nề, sự quá tải trong học tập gây mệt mỏi cho học sinh nhất là học sinh tiểu học và THCS, việc dạy thêm, học thêm tràn lan, sự gian dối của người học... để kéo dài mà không có biện pháp giải quyết dứt điểm dẫn đến sự không đồng tình của xã hội.

Công tác thanh tra giáo dục, trong đó có thanh tra chuyên môn là một nhiệm vụ chính yếu và quan trọng hàng đẩu của công tác quản lý để đảm bảo chất lượng dạy và học, chưa được quan tâm đúng mức về xây dựng lực lượng cũng như tổ chức thực hiện nhiệm vụ thanh tra, từ đó đề xuất xây dựng và hoàn thiện cơ chế quản lý một cách có hiệu quả nhất.

5. Một số vấn đề cụ thể

Chưa bao giờ trên các phương tiện thông tin đại chúng và dư luận xã hội đề cập đến giáo dục nhiều như hiện nay, khen cũng nhiều mà chê cũng không ít. Ở đây, chúng tôi chỉ đề cập đến 3 vấn đề, đó là sự gian dối trong học tập, việc dạy thêm và học thêm tràn lan, thi cử nặng nề.

a. Về gian dối trong học tập

Trong những năm gần đây, sự gian dối trong học tập ngày càng gia tăng, ở các lớp trên xảy ra nặng và nhiều hơn lớp dưới, ở người lớn nghiêm trọng hơn ở thanh thiếu niên. Sự gian dối tuy chủ ở một bộ phận người học nhưng lại có tính phổ biến mà địa phương nào cũng có, từ giáo dục chính quy, tại chức đến giáo dục thường xuyên đều xảy ra. Các hiện tượng chạy điểm, chạy thầy, quya cóp, mua bán sử dụng phao thi... trước đây rất út và người học cảm thấy xấu hổ khi bị phát hiện thì bây giờ không ít người học coi đó là chuyện bình thường. Cha mẹ mua bằng cho mình thì việc mua điểm cho con là dễ hiểu. Nhưng hậu quả của việc làm đó lại làm cho các em học sinh trong lớp nhận ra sự bất công do người lớn mang lại, niềm tin của các em vào cha mẹ, thầy cô bị tổn thương và ảnh hưởng xấu đến nhân cách của các em đến mức nào thật khó lường.

Khi có chủ trương tiêu chuẩn hoá cán bộ, công chức, đã dấy lên một phong trào học tập trong cán bộ, công chức, trong lực lượng lao động trẻ. Nhưng rất đáng tiếc, có một bộ phận người lớn đi học với động cơ không đúng đắn, không học tập nghiêm túc, chỉ cần có một tấm bằng mà không quan tâm đến kiến thức. Vì vậy, tình hình học giả bằng thật, hiện tượng sao chép luận văn thạc sĩ, tiến sĩ xảy ra không phải ít.

Trong lịch sử giáo dục nước nhà, chưa bao giờ các dịch vụ làm luận văn, luận án lại được quảng cáo xung quanh các trường đại học như hiện nay. Những tiêu cực của người học, đứng về mặt giá trị kinh tế thì không lớn và không đáng kể so với tham nhũng trong lĩnh vực kinh tế nhưng sự tổn thất về đạo đức xã hội, phẩm chất con người thì vô cùng nghiêm trọng và hậu quả của nó làm mất đi niềm tin và sự tôn trọng của lớp trẻ đối với các bậc làm cha mẹ, đàn anh của mình mà họ thường ngưỡng mộ noi theo...

(tiếp tục cập nhật)

,

Tin khác

Tin khác của 'Hồ sơ'

,





.

,